Những khái niệm cốt lõi của marketing

Bạn đang cần mua Bảo hiểm y tế phải không? Bạn vào Baohiem24h.net nhé ! Chất lượng tốt lắm

Fagor.com.vn la dia chi cung cap May hut mui rinnai tot va re nhat ma minh tung vao, mat hang lai chat luong nua

Theo marketing căn bản, Marketing là quy trình Tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty chế biến ra. Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn kinh doanh của thị trường. Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó.

a0b37cd6 ffb7 44a1 8afa 8aefa18117a1 Những khái niệm cốt lõi của marketing

Có biện pháp khái niệm Marketing khác nhau. Marketing là quá trình Tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những sản phẩm do công ty bước chế biến ban đầu ra. Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình khảo sát và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa thích nó. người sử dụng cũng tất nhiên hiểu rằng Marketing chính là cơ chế bộ mặt và người dùng mà những tổ chức và cá nhân áp dụng nhằm thỏa mãn kinh doanh và mong muốn của chính mình thông qua phương pháp trao đổi sản phẩm trên thị trường.

Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một trong nhiều quy trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà dành cho tất cả mọi người và tập thể có được các kết quả họ cần và kỳ vọng thông qua các việc tạo ra, chào bán và có nói những bao bì có đảm bảo giá trị với những người khác.

Khái niêm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong ước và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, khoản phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch cùng các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Những quan niệm này được minh hoạ trong hình sau:

Nhu cầu, mong muốn và yêu cầu

Tư duy marketing khởi động từ rất nhiều nhu cầu và kỳ vọng khá khả thi của con người. Người ta cần thức ăn, không khí, nước, đồ dùng và chuồng trại để nương thân. Bên cạnh người ta còn rất ham muốn được nghỉ ngơi, học hành và những dịch vụ khác khác. Họ cũng có sự ưa chuộng nhiều mẫu mã và nhãn hiệu khác nhau của nhiều hàng hoá dịch vụ cơ bản.

Số liệu thăm dò cho thấy, trong một năm, 249 triệu người Mỹ có thể sử dụng hay áp dụng 67 tỷ quả trứng, 2 tỷ con gà, 5 triệu máy sấy tóc, 133 tỷ km hành khách du lịch nội địa bằng máy bay và hơn 4 triệu bài giảng của mỗi giáo sư đại học Anh ngữ. Những hàng sử dụng và dịch vụ và sản phẩm này đẻ ra mong đợi phải đã hơn 150 triệu tấn thép, 4 tỷ tấn bông vải và những loại tư liệu chế biến khác.

Cần khác biệt so với rõ các quan niệm nhu cầu, chờ đợi và yêu cầu. Nhu cầu của bạn là một trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thoả mãn quan trọng nhất nào đó. Người ta cần giữ thức ăn, quần áo, nơi ở, sự an toàn, của cải, sự quý trọng và một vài thứ khác nhau để tồn tại. Những có nhu cầu buôn bán này không cần thiết phải do xã hội hay các bà làm marketing tạo ra. Chúng tồn tại như một cương vị cấu thành cơ thể dành cho mọi người và nhân thân con người.

Mong muốn là sự ao ước giữ được những thứ riêng biệt để thoả mãn nhiều nhu cầu sâu xa hơn đó. Một người Mỹ có có nhu cầu thức ăn và mong muốn có có món hamburger, có kinh doanh các mặt hàng nói trên về những bộ trang phục và kỳ vọng có bộ đồ Pierrre Cardin, có nhu cầu buôn bán về sự quý trọng và muốn có một một chiếc xe Mercedes. Trong một nhân viên khác thì nhiều nhu cầu này lại còn có thoả mãn theo một cách khách quan khác: Những con người thổ dân Úc thoả mãn cơn đói của chính bạn bằng chim cánh cụt; Nhu cầu về quần áo bằng mảnh khố; Sự quý trọng bằng một chuỗi vòng vỏ ốc để đeo cổ. Mặc dù nhu cầu của các cá nhân thì ít, nhưng niềm hy vọng của họ thì nhiều. Mong muốn của dành cho con người không ngừng tạo nên và được định hình bởi các lực lượng và định chế xã hội, như nhà thờ, trường học, trong gia đình và nhiều doanh nghiệp kinh doanh.

Yêu cầu là mong muốn chiếm được những sản phẩm cụ thể được hậu thuẫn của công suất và thái độ dùng để sẵn sàng mua chúng. Mong muốn mang đến yêu cầu khi dùng sức mua hỗ trợ. Nhiều người chờ đợi có một chiến xe Mercedes, nhưng chỉ có theo yêu cầu ít người có thể và sẵn sàng mua loại xe đó. Vì vậy cơ sở không những chỉ phải định lượng xem có từng nào người kỳ vọng có bao bì của mình, mà điều nhất thiết hơn là phải định lượng xem có từng nào người thật sự sẵn sàng và có cơ hội mua nó.

Những điểm chênh lệch nêu trên đã làm sáng tỏ những nhận xét phê bình thường thấy của những bà lên án marketing là “những người làm marketing gây nên nhu cầu” hay “những người làm marketing dụ dỗ người mua mua những thứ và họ không mong muốn”. Những công nhân làm marketing không tạo nên nhu cầu, kinh doanh đã tồn tại trước khi có những người làm marketing. Cộng thêm những yếu tố ảnh hưởng khác trong xã hội, những người làm marketing có ảnh hưởng đến những mong muốn. Họ cổ vũ ý tưởng đang là kiểu xe Mercedes sẽ thoả mãn buôn bán về địa vị nhân dân của con người. Tuy nhiên những bà làm marketing không tạo nên có nhu cầu về địa vị xã hội. Họ ảnh hưởng đến yêu cầu với phương pháp làm ra sản phẩm thích hợp, hấp dẫn, vừa nhu cầu và dễ kiếm cho các bà tiêu dùng mục tiêu.

Sản phẩm

Người ta thoả mãn các nhu cầu và mong muốn của chính mình bằng những mặt hàng và dịch vụ. Thuật ngữ bao bì ở đây được hiểu là cả hang hoá lẫn dịch vụ. Ta định nghĩa bao bì là ngay bất cứ thứ gì tất nhiên đem chào bán để thoả mãn một có nhu cầu buôn bán hay mong muốn. Ý nghĩa nhất thiết của sản phẩm vật chất có nguồn gốc không cần từ việc sở hữu chúng, mà chính là từ cái kiểu có được các dịch vụ mà chúng đem lại. Ta mua những loại xe đỡ phải để ngắm nhìn nó mà vì nó phục vụ vận chuyển. Ta mua một chiếc bếp khỏi cần để chiêm ngưỡng mà vì nó an tâm sản phẩm và dịch vụ nấu nướng. Bởi vậy các vỏ hộp vật chất thực sự là những phương tiện an toàn phân phối chúng ta.

Thực ra thì sản phẩm và dịch vụ còn do những một trong những yếu tố khác đảm bảo, như con người, địa điểm, các hoạt động, Tổ chức và ý tưởng. Nếu ta cảm thấy buồn thì ta ngược lại đến một câu lạc bộ hài kịch để xem một diễn viên hài biểu diễn, được bày bán câu lạc bộ độc thân (tổ chức) hay chấp nhân triết lý sống cụ thể (ý tưởng). Vì vậy ta sẽ áp dụng thuật ngữ sản phẩm để ám chỉ sản phẩm vật chất, vỏ hộp gói dịch vụ và những vật dụng khác có cơ hội thoả mãn một chờ đợi hay một nhu cầu. Đôi khi ta cũng sẽ áp dụng những thuật ngữ đặc biệt thay cho sản phẩm, như hàng hoá, một yếu tố thoả mãn hay nguồn tài nguyên.

Các nhà bước chế biến ban đầu hay phạm sai lầm là chú trọng đến các sản phẩm vật chất của chính mình hơn là đến còn nhiều dịch vụ mà những vỏ hộp đó thực hiện. Họ chỉ hình dung được việc tiêu thụ bao bì chứ không phải việc đảm bảo để xử lý một nhu cầu. Thế nhưng Người ta phụ nữ không quá mua cục sáp môi, mà bà ta lại mua “một niềm hy vọng” để làm đẹp cho mình. Người thợ mộc không mua vài loại khoan, mà mua một “lỗ khoan”. Đối tượng vật chất chỉ cần một phương tiện bao gói một dịch vụ. Công việc của người làm marketing là bán những quyền và lợi ích hay dịch vụ chứa đựng trong những bao bì vật chất, chứ không cũng là miêu tả những tính chất vật lý của chúng. Những người lao động bán chỉ chú tâm đến sản phẩm vật chất chứ không cần có nhu cầu sử dụng của người tiêu dung chịu trách nhiệm mắc bệnh “thiển cận marketing”.

Giá trị mức phí và sự thoả mãn

Trong số bao nhiều những bao bì có thể thoả mãn một trong kinh doanh nhất định, người tiêu dùng sẽ muốn tìm hiểu như hôm nay nào? Giả sử, hôm nay Người ta phải đi làm xa 3 dặm. Có một số bao bì chắc hẳn thoả mãn được buôn bán này: patanh, xe đạp, xe gắn máy, ô tô, taxi và xe buýt. Những nhiều cách này gây dựng một tập khả năng muốn mua sản phẩm. Giả sử người đó muốn thoả mãn theo đơn hàng nhu cầu phụ thêm trên lối thoát làm, chính xác là tốc độ, an toàn, đê mê và tiết kiệm. Ta gọi được coi là tập nhu cầu. Bây giờ thì mỗi sản phẩm có một khả năng cụ thể để thoả mãn những nhu cầu cụ thể của người đó. Chẳng hạn như xe đạp thì chậm hơn, kém an tâm và rất mệt và mất thời gian hơn là ô tô, nhưng bạn lại tiết kiệm được hơn. Dù dư nào đi nữa thì người đó cũng cần quyết định bao bì nào sẽ an toàn thoả mãn nhu cầu sáng suốt nhất.

Khái niệm chủ đạo là giá trị đối với khách hàng. Người đó sẽ đánh giá khả năng của từng bao bì thoả mãn tập nhu cầu buôn bán của mình. Anh ta ngược lại xếp hạng các bao bì từ loại thoả mãn những nhu cầu nhất đến đến loại thoả mãn ít kinh doanh nhất. Đẳng cấp là sự đánh giá của nhiều người dùng về khả năng chung của sản phẩm thoả mãn những nhu cầu của mình.

Ta tất nhiên hy vọng anh ta hình dung những những tiêu chuẩn của một bao bì lý tưởng đối với những yêu cầu đó. Anh ta rất có thể giải đáp rằng vỏ hộp lý tưởng sẽ đưa anh ta đến chỗ làm trong giây lát với sự an toàn tuyêt đối, không tốn sức và khoản chi phí bằng không. Khi đó đảm bảo giá trị của mỗi bao bì khá khả thi sẽ phụ thuộc vào mức độ nó gần với vỏ hộp tuyệt vời đó.

Giả sử rằng anh ta mệt mỏi ban đầu đến tốc độ và sự dễ chịu khi đã có làm. Nếu anh ta được sử dụng hoàn toàn miễn phí bất kỳ vỏ hộp nào trong những đó, thì ta rất có thể đoán trước được là anh ta sẽ dùng ô tô. Nhưng lúc này mới nảy sinh vướng mắc: mức chi phí để mua ô tô lớn hơn nhiều so với chi phí khi đi mua một chiếc xe đạp, vì vậy anh ta thường phải từ bỏ nhiều điều khác (có giá trị) để mua ô tô. Vì vậy anh ta sẽ xem xét giá trị và giá bán của sản phẩm trước khi anh ta chọn. Anh ta sẽ chọn bao bì nào gây nên giá trị cao nhất trên một đồng USD.

Các nhà nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng hiện nay đã vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của rất nhiều giả thuyết bộ mặt về cách thức người dùng xét đoán đảm bảo giá trị và có nhu cầu sử dụng sản phẩm.

Trao đổi, giao dịch mua bán cùng các mối quan hệ

Việc dành cho cá nhân có rất nhiều nhu cầu và mong muốn và tất nhiên gắn cho các sản phẩm một đảm bảo giá trị vẫn chưa nói lên hết được ý nghĩa của marketing. Markerting lộ rõ khi người ta chính thức thoả mãn mọi nhu cầu và chút hy vọng thông qua các trao đổi. Trao đổi là một trong những trong bốn kế hoạch người ta giữ được các sản phẩm.

Cách thứ đặc biệt là tự sản xuất. Người ta tất nhiên tự để giải quyết cơn đói bằng phương pháp săn bắn, đánh cá hay hái lượm trái cây. Họ không đã và đang quan hệ với ngay bất cứ ai khác. Trong trường hợp này, hoàn toàn không lĩnh vực đó và cũng không có thói quen marketing.
Cách đã được là cưỡng đoạt. Những người đói ngược lại cướp giật hay đánh cắp thức ăn của những bà khác. Những nhân công khác đó chưa hề lợi gì ngoại trừ một điểm là khó bị thương.

Cách thứ ba là đi xin. Nhân viên đói ngược lại đến xin người khác thức ăn. Họ không có thứ gì hữu hình để trao đổi, ngoại trừ lời cảm ơn.

Cách thứ tư là trao đổi. Những người lao động đói chắc hẳn bán buôn và bán lẻ người khác tiền, loại các sản phẩm này khác hay sản phẩm để đổi lấy thức ăn.

Marketing xất hiện từ những chế độ kiếm sản phẩm thứ tư này. Trao đổi là hành động coi trọng một sản phẩm chờ đợi từ cất cả mọi người nào đó bằng cách đưa cho khách hàng đó những thứ gì đó. Trao đổi là một khái niệm quyết định, tạo nền móng cho marketing. Trao đổi chỉ diễn ra khi thoả mãn đủ một cơ hội sau:

1. Ít nhất phải có hai bên.
2. Mỗi bên phải có một điểm gì đó tất nhiên có giá trị như với bên kia.
3. Mỗi bên phải có thể tự giao dịch và chuyển giao sản phẩm của mình.
4. Mỗi bên vẽ ra một quyền tự do chấp nhận hay khước từ lời đề nghị của bên kia.
5. Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn việc mua bán với bên kia.
Nếu tràn ngập năm điều kiện này thì sẽ có năng lực trao đổi. Còn việc trải nghiệm có thực sự diễn ra hay không là còn tuỳ thuộc vào vấn đề hai bên rất có thể thảo thuận được những điều kiện tìm kiếm có lợi cho cả hai bên (hay chí ít cũng không thấy hại) so với trước khi trao đổi. Chính vì bản sắc này mà tìm tòi được công nhận như là một trong nhiều quá trình gây ra giá trị, nghĩa là có nói thường càn khiến cho cả hai bên có lợi hơn trước khi quyết định trao đổi.

Trao đổi phải được coi như là một trong một giai đoạn chứ không cũng là một sự việc. Hai bên được xem giống như đã tham gia khám phá nếu họ đang thương lượng để đi tới một thoả thuận. Khi đạt được một thoả thuận thì ta nói trao đổi đã diễn ra. Giao dịch là đơn vị quan trọng của trao đổi. Giao dịch là một trong nhiều vụ kinh doanh những giá trị giữa hai bên. Ta ngược lại đoán chắc rằng: bên A đã đưa cho bên B vật X nhưng đã nhận lại vật Y. Tuy nhiên trao đổi không đòi hỏi đều cần thiết tiền như bất kỳ đảm bảo giá trị được mua bán. Giao dịch thử nghiệm hàng có nghĩa chịu trách nhiệm này đưa đến cho những ai kia một chiếc tủ lạnh và nhận một chiến TV. Giao dịch hàng đổi hàng cũng tất nhiên là mua bán dịch vụ thay cho hàng hoá, như trong khi luật sư viết một tờ di chúc cho bác sỹ để đổi lấy việc khám bệnh…

Giao dịch đòi hỏi đều cần một yếu tố: ít nhất có hai giá trị, những cơ hội thực hiện còn được thoả thuận, thời gian thực hiện đã thoả thuận, cửa hàng thực hiện cũng được thoả thuận. Thông thường có cả một dây chuyền luật pháp hậu thuẫn và bắt buộc các bên trao đổi sẽ thực hiện đúng các bước lời bảo đảm của mình. Giao dịch cực kỳ nhanh làm phát sinh mâu thuẫn do hiểu lầm hay cố tình. Không có “luật hợp đồng” thì khách hàng sẽ thiếu tin tưởng vào nghiệp vụ giao dịch và tất cả đều bị thua thiệt.

Các công ty để giám sát các vụ giao dịch của các bạn và chia ra chúng theo mặt hàng, giá cả, địa chỉ với những biến cố khác. Phân tích doanh số bán là sự thật phân tích nguyên liệu doanh thu của công ty theo sản phẩm, bà con và địa bàn…
Giao dịch khác với chuyển giao. Trong chuyển giao bên A đưa cho bên B vật X nhưng không nhận lại vật gì hữu hình. Khi bên A đưa cho bên B một món quà, một khoản tiền trợ cấp hay một khoản góp phần từ thiện, thì ta nói lại là một vụ chuyển giao chứ không cần giao dịch. Dường như marketing chỉ được giới hạn ở việc nghiên cứu trao đổi chứ khỏi cần chuyển giao. Tuy vậy hành vi chuyển giao cũng chắc hẳn được nghiên cứu qua định nghĩa trao đổi. Thông thường người chuyển giao hướng dẫn các chút hy vọng nhât định đối bằng hành động tặng quà, như sẽ được nhận một lời tri ân hay được thấy người nhận có các hành vi tốt hơn. Những người lao động quyên góp quỹ chuyên dụng hiểu rất rõ động cơ “có đi có lại” của nhiều nhà hảo tâm và mời họ đến dự các buổi lễ. Gần đây các bà làm marketing đã mở rộng quan niệm marketing để nó bao gồm nhiều việc việc học tập hành vi chuyển giao cũng như hành vi giao dịch.

Theo bản sắc chung nhất thì người làm marketing đang tìm cách tạo cho được hành vi phản ứng từ phía bên kia. Một công ty buôn bán thì muốn phản ứng chính xác là hành vi mua hang, một ứng viên chính trị thì muốn phản ứng chính là hành vi bỏ phiếu, nhà thờ thì muốn phản ứng chính xác là hành vi theo đạo, nhóm hoạt động xã hội thì muốn phản ứng được coi là hành vi đang nhận dự định của mình. Marketing có cả những chạy tốt hơn được khởi động nhằm tạo nên những phản ứng mong ước đối bởi một các đối tượng từ phía công chúng mục tiêu.

Để an toàn các cuộc chia sẻ xuất hiện trôi chảy, người làm marketing phải bình luận xem mỗi bên dự kiến sẽ cho và nhận cái gì. Những tình huống nói rằng là giản đơn chắc hẳn biểu diễn bằng một bộ hồ sơ trên đó có hai của con người ta cùng những thứ kỳ vọng và lời chào chào lưu thông giữa họ.

Đến đây ta đã thấy thực chất của marketing giao dịch. Maketing việc mua bán là một cương vị kế hoạch mạnh mẽ là marketing quan hệ. Nhiều công nhân làm marketing khôn ngoan đều cố gắng xây dựng những quan hệ lâu dài, có sự đánh giá tốt cậy, cùng hưởng lợi với những người mua lớn, mọi người phân phối, cửa hàng và những bà cung ứng. Chính điều này được thực hiện bằng việc với việc hứa hẹn và luôn bảo đảm chất lượng sản phẩm cao, dịch vụ đặc biệt chu đáo và giá bán ngoài thị trường phải chăng cho phía bên kia. Nhiệm vụ đó vẫn được thực hiện bằng việc với việc cài đặt những mối quan hệ ràng buộc thân thiết về kinh tế, nhân công và cộng đồng và những bên đối tác. Marketing quan hệ sẽ làm giảm được mức phí và 7 năm phiên giao dịch và trong các nhiều trường hợp tốt đẹp nhất nhất trao đổi sẽ làm chuyển từ chỗ phải thương lượng từng lần sang chỗ trở bằng được việc thường lệ.

Kết quả thành phẩm của marketing quan hệ là hình thành được một tài sản vững chắc của công ty, được gọi là mạng lưới marketing bao gồm cơ sở và mọi người cung ứng, những người phân phối tới tận tay người dùng và mọi người của chính mình mà công ty đã xây dựng được những mối quan hệ vững chắc, khẳng định trong kinh doanh. Marketing hiện nay có xu hướng chuyển từ chỗ hứa hẹn tăng tối đa nguồn thu trong từng vụ nghiệp vụ giao dịch sang chỗ tăng rất nhiều những mối quan hệ đôi bên cùng hưởng lợi cùng các đối tác. Nguyên tắc nhiều hoạt động là phải cài đặt được những mối quan hệ tốt rồi tự khắc các vụ giao dịch đang có lợi.

Thị trường

Thị trường bao gồm cả 3 các bà con ngày nay và ẩn lấp cùng có một nhu cầu hay chờ đợi cụ thể, sẵn sàng và có thể tham gia thử nghiệm để thỏa mãn nhu cầu hay kỳ vọng đó.

Như vậy mô hình của thị trường điều chỉnh vào bất kỳ người có có nhu cầu buôn bán và có những tài nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng sử dụng những tài nguyên đó để đổi lấy cái họ sẽ mong muốn.

Lúc đầu thuật ngữ nội dung được hiểu là nơi mà mọi người và người bán gặp nhau để nói là hàng hóa, chẳng hạn như những loại chợ của làng. Các công ty kinh tế sử dụng thuật ngữ lĩnh vực để với một tập thể những người mua và người bán việc mua bán với nhau vể một bao bì hay một lớp sản phẩm cụ thể, như vấn đề nhà đất, khu vực ngũ cốc…Tuy nhiên, những bà làm marketing lại coi người bán họp thành ngành sản xuất, coi bà con họp thành thị trường.

Những người kinh doanh quy định thuật ngữ lĩnh vực đó để chỉ nhóm bà con khác nhau. Họ nói về thị trường nhu cầu (chẳng hạn như khu vực sản phẩm thường ngày), thị trường vỏ hộp (thị trường giày dép), vấn đề nhân khẩu (như thị trường thanh niên) và vấn đề địa lý (như nội dung Việt Nam). Hay họ còn mở rộng khái niệm để chỉ cả những nhóm không phải khách hàng, như lĩnh vực đó cử tri, thị trường sức làm công việc và lĩnh vực đó nhà hảo tâm.

Thực tế thì những nền bộ mặt hiện đại nhất đều chạy đúng thời điểm theo nguyên tắc phân công lao động trong đó mỗi người chuyên chế biến một thứ gì đó, nhận tiền phải thanh toán rồi mua những thứ nhất thiết bằng một số tiền đó. Như vậy là nền bộ mặt hiện đại nhất có có nhiều thị trường. Dưới bề bặt các nhà sản xuất liên lạc các lĩnh vực tài nguyên (thị trường nguyên liệu, nội dung sức lao động, vấn đề tiền tệ…) mua tài nguyên, biến chúng thành dịch vụ và dịch vụ, bán chúng cho mọi người trung gian để những bà trung gian sẽ bán chúng cho những người tiêu dùng. Người tin dùng bán sức lao động của chính bạn lấy tiền khả năng để thanh toán cho những hàng hóa và gói dịch vụ và họ mua. Nhà nước là một trong những khu vực khác có bất kỳ vai trò. Nhà nước mua sắm hóa dựa trên các nội dung tài nguyên, thị trường nhà sản xuất và lĩnh vực đó người trung gian, phải trả tiền cho họ, đánh thuế các thị trường đó (kể cả nội dung người tiêu dùng), rồi đảm bảo các dịch vụ khác công cộng cần thiết. Như thế là mỗi nền kinh tế nước tin dùng và lãnh đạo và nền kinh tế các châu lục tạo ra những tập hợp thị trường phức tạp ảnh hưởng tò mò với nhau và cầu nối với nhau thông qua giai đoạn trao đổi.
Như vậy, quan niệm khía cạnh đã đưa ta quay lại điểm xuất phát là định nghĩa marketing. Marketing có nghĩa là chạy đúng thời điểm của những cá nhân diễn ra trong mối quan hệ với thị trường. Marketing có nghĩa là nhiều hoạt động với khía cạnh để biến những tham khảo ẩn lấp thành hiện thực hóa với công cuộc là thỏa mãn mọi nhu cầu và kỳ vọng của con người.

Nếu một mặt tích cực trao đổi cách học hỏi hơn bên kia, thì ta gọi bên thứ nhất có trách nhiệm làm marketing còn bên tiếp theo là khách hàng triển vọng. Người làm marketing là người nói rằng là tài nguyên từ mọi người khác và sẵn sàng công bố một thứ nào đó có đảm bảo giá trị trao đổi. Người làm marketing chia sẻ một phản ứng từ phía bên kia để bán hoặc mua một điểm gì đó. Nói cách khác, người làm marketing ngược lại là người bán hay người mua. Giả sử, có một vài người có ý định sử dụng một căn nhà nền kinh tế thị trường vừa mới xây xong. Nếu như thế là những bà con đó cũng đang làm marketing! trong trường hợp cả hai bên đều có lợi hơn tìm cách trao đổi, thì ta khẳng định rằng cả hai bên đều chịu trách nhiệm làm marketing và gọi trường hợp được coi là marketing lẫn nhau.

Trong trường hợp bình thường người làm marketing là một địa điểm bán và lắp đặt khía cạnh người áp dụng sau cùng đối mặt với các các đối thủ cạnh tranh cạnh tranh. Nhà máy sản xuất và những đối thủ cạnh tranh đều gửi vỏ hộp tương đồng và một thông điệp cho người áp dụng thành phẩm một cách khách quan trực tiếp nhất hay qua các định chế trung gian marketing (những người trung gian và những người xúc tiến thương mại). Hiệu quả có thể tương đối của họ chịu tác động của những bà đang cung cấp tương đương cũng như của nhiều lực lượng chính của hoàn cảnh (nhân khẩu học, kinh tế, vật chất, kỹ thuật, chính trị pháp lý, xã hội/văn hóa).
Sau khi việc học tập kỹ những khái niệm này của bạn xin được nhắc lại định nghĩa marketing như sau: Marketing là nhiều cơ chế kinh tế và những người sử dụng mà nhiều tổ chức và cá nhân áp dụng nhằm thoả mãn nhiều nhu cầu và đòi hỏi rất nhiều (mong muốn) của chính mình qua các các quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường.

Theo gomm